Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phùng Như Hoa)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    20110408_9f808c615f1f516af215ojjddO289oQm.swf Trieu_bong_hongloan.swf Muoi_nam.swf IMG_6293.flv IMG_3305.jpg IMG_3382.jpg IMG_3257.jpg IMG_3220.jpg IMG_3194.jpg IMG_3337.jpg IMG_3186.jpg IMG_3278.jpg IMG_3330.jpg IMG20151202161630.jpg IMG20151202161005.jpg IMG20151118063813.jpg IMG20151202161054.jpg IMG20151120154657.jpg IMG20151120154612.jpg IMG20151202161710.jpg

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 1 thành viên
  • TRÀN THIỊ THẢO
  • Sắp xếp dữ liệu

    Tài nguyên dạy học

    BÁO MỚI

    Chào mừng quý vị đến với website của Phùng Như Hoa

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Chúc quí thầy cô ngày NGVN tràn ngập niềm vui- luôn an lạc và thành công trong công việc

    "Chúc quí thầy cô luôn vững tin trong sự nghiệp trồng người "!

    ....

    Như Hoa hân hạnh đón chào quý bạn hữu đến thăm và đóng góp xây dựng.

    .......

    Mời quí thầy cô tĩnh tâm với những giai điệu nhẹ nhàng này!

    Module 31 BDTX thông tư 12.

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phùng Như Hoa (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:50' 23-04-2021
    Dung lượng: 439.0 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
    Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON
    Bạo lực trẻ em: là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.
    Bạo lực học đường ở cơ sở GDMN là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe dọa hoặc tẩy chay, thờ ơ, bỏ mặc hoặc dùng sức mạnh thể chất để khủng bố người khác để lại thương tích trên cơ thể thậm chí dẫn đến tử vong hoặc gây tổn thương đến tâm lý cho những đối tượng tham gia vào quá trình chăm sóc, giáo dục ở cơ sở GDMN
    Đối tượng tham gia vào quá trình CS-GD ở cơ sở GDMN & những nguy cơ BLHĐ

    TRẺ MN
    GIÁO VIÊN
    NHÂN VIÊN Ở CSGD MN
    CÁN BỘ QUẢN LÝ CSGD MN

    CHA MẸ TRẺ

    BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
    Bạo lực thể chất
    là việc một đối tượng/ nhóm đối tượng cố ý sử dụng vũ lực có khả năng làm tổn hại gây ra tử vong hoặc không gây ra tử vong cho người khác
    Xao nhãng hoặc đối xử thờ ơ
    là việc không đáp ứng những nhu cầu về thể chất và tâm lý, không đảm bảo các quyền lợi chính đáng mà người khác được hưởng
    Bạo lực tinh thần
    là ngược đãi về tinh thần, lạm dụng tinh thần, lạm dụng bằng lời nói, lạm dụng tình cảm hoặc thờ ơ, xao nhãng gây ra những suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, lo lắng sợ hãi làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người khác
    Bạo lực tình dục
    bao gồm bất kỳ hành động tình dục hay ý định thực hiện hành động tình dục nào với người khác mà không được sự đồng ý hoặc thực hiện các hành động xúi giục hoặc cưỡng ép, đe dọa hoặc ép buộc trẻ em tham gia vào bất kỳ hành động tình dục nào

    BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNGĐƯỜNG

    Bạo lực thể chất bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
    Tất cả các hình thức tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt độc ác, phi nhân tính
    Tất cả các hình thức trừng phạt thân thể, ép buộc người khác vào những tư thế khó chịu, tấn công bằng tay hoặc một đồ vật, ép ăn uống, cho sử dụng những chất kích thích hoặc chất độc hại cho cơ thể (như thuốc mê, chất gây nghiện, chất độc…)
    Ngăn cản không đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cơ thể: ăn, uống, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân,
    Bị một hay nhóm đối tượng trong cơ sở GDMN bắt nạt thân thể và ăn hiếp.
    Biểu hiện của Bạo lực thể chất ở cơ sở GDMN
    Các hình thức Bạo lực tình dục
    Bạo lực tình dục bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
    Quấy rối, tấn công tình dục, cưỡng hiếp người khác ở cơ sở GDMN; Vuốt ve mơn trớn, cưỡng hiếp và tấn công tình dục trẻ em;
    Sử dụng trẻ em/người khác để lạm dụng và bóc lột tình dục vì mục đích thương mại (như buôn bán người vì mục đích tình dục, văn hóa phẩm khiêu dâm, mại dâm đặc biệt trong ngành du lịch, nô lệ tình dục, buôn bán trẻ em);
    Tội phạm mạng/Lạm dụng và bóc lột tình dục trực tuyến/qua mạng hoặc bằng công nghệ số
    Các hình thức Bạo lực tinh thần
    Bạo lực tinh thần bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức:
    Hạ thấp, xúc phạm, chê bai (nói với họ là người kém cỏi, không có giá trị, không được yêu mến, không được mong muốn, lăng mạ, bêu xấu tên tuổi, làm nhục, làm mất uy tín, nhạo báng và nói xấu);
    Tất cả các hình thức vi phạm sự riêng tư và vi phạm sự bảo mật có thể gây ra tác động tâm lý có hại cho người khác;
    Các hình thức Bạo lực tinh thần

    Gây sợ hãi, hăm dọa, đe dọa; bóc lột và mua chuộc; hắt hủi và chối bỏ; cô lập, phớt lờ và thiên vị; Từ chối phản ứng tình cảm; xao nhãng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần, y tế và giáo dục;
    Để trẻ em chứng kiến bạo lực gia đình hoặc đối xử thù địch;
    Đưa vào giam giữ, cô lập
    Bắt nạt và uy hiếp trên mạng thông qua điện thoại, internet;
    Biểu hiện của Xao nhãng hoặc đối xử thờ ơ
    Với trẻ: bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
    Xao nhãng thể chất (không bảo vệ trẻ tránh khỏi bị xâm hại, trong đó có việc không giám sát thường xuyên; không cung cấp cho trẻ những thứ thiết yếu và chăm sóc sức khỏe cơ bản);
    Xao nhãng tinh thần hoặc tình cảm, trong đó có việc thiếu sự hỗ trợ tình cảm và yêu thương, lơ là, người chăm sóc không có khả năng chú ý tới những tín hiệu và dấu hiệu của trẻ, để trẻ chứng kiến hành vi BL hoặc hành vi lạm dụng ma túy và rượu;
    Biểu hiện của Xao nhãng
    hoặc đối xử thờ ơ
    Không quan tâm tới những nhu cầu xã hội của trẻ em (như từ chối quyền được vui chơi, giải trí và tương tác xã hội);
    Xao nhãng việc học tập;
    Bỏ rơi (hành vi cố ý để trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ)
    * Với những người lớn khác trong cơ sở GDMN sự thờ ơ thể hiện:
    Không quan tâm, bỏ mặc những cảm xúc, sự mong muốn được hỗ trợ, can thiệp khi cần thiết;
    Không đảm bảo các quyền lợi của thành viên trong cơ sở giáo dục (không đảm bảo chế độ làm việc, chế độ lương thưởng, không cho tham gia/ cô lập trong các hoạt động đào tạo bồi dưỡng, hoạt động tập thể…) ;
    Không bảo vệ các thành viên trong cơ sở giáo dục khi xảy ra mất dân chủ, mất bình đẳng hoặc bị bạo lực, bóc lột.
    Ảnh hưởng của BLHĐ đối với sự phát triển của trẻ MN
    Sự phát triển thể chất
    BLHĐ
    Tâm lí, hành vi
    và các mối tương tác xã hội
    Việc học tập

    Ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất

    Thương tật
    Đau đớn
    Tử vong
    Căng thẳng, lo lắng
    Bệnh lý thần kinh
    Ảnh hưởng đến tâm lí, hành vi và các mối tương tác xã hội
    Mất tự tin, nhút nhát
    Lo lắng, sợ hãi
    Mất niềm tin vào người khác
    Tự làm đau bản thân hoặc làm đau người khác, phá phách đồ
    Trầm cảm
    Rối loạn giấc ngủ
    Sợ hãi 1 hiện tượng, đối tượng nào đó…
    Rối loạn hành vi; Thực hiện các hành vi xung đột; Thu mình né tránh mọi người; Có những thói quen hay hành vi xấu
    Ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ
    Mất tập trung
    Không muốn tới trường
    Không muốn tham gia các hoạt động trong lớp
    Không muốn hợp tác và không dám nhờ sự giúp đỡ
    Chậm phát triển (ngôn ngữ, giao tiếp, vận động, nhận thức…)
    Nguyên nhân cơ bản của BLHĐ ở cơ sở GDMN
    Từ góc độ sinh học
    Sự phát triển tự nhiên, nhu cầu vận động
    Vấn đề DD và Sự giải tỏa năng lượng
    Từ góc độ tâm lý
    Sự trỗi dạy của bản năng vô thức
    Cơ chế tự vệ: bị bắt nạt thì bắt nạt lại người khác, sợ bị coi thường, muốn được quan tâm
    Xung lực phá hủy không được kiểm soát
    Từ góc độ XH
    NT của nhà trường, GĐ (quyền trẻ em, những biểu hiện của BL, ý thức trách nhiệm, giá trị nghề)
    Giá trị đạo đức XH suy yếu
    VH nhà trường
    Áp lực nghề nghiệp, chế độ làm việc
    Thói quen sinh hoạt, văn hóa GĐ
    Phim ảnh, game
    BLHĐ

    PHÒNG CHỐNG BLHĐ Ở CƠ SỞ GDMN
    KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
    Hoa Kỳ: Bộ GD đã phối hợp với Bộ An ninh Hoa Kỳ xuất bản TL hướng dẫn Xây dựng Nhà trường An toàn hơn nhằm đưa ra một kế hoạch toàn diện trên toàn quốc đảm bảo tốt hơn sự an tòan trong trường học với các mặt: 1/Xây dựng một bầu không khí tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, 2/Xây dựng các mối quan hệ tin tưởng tôn trọng, 3/ Tăng cường giao tiếp, 4/ Đưa ra các chính sách và thủ tục rõ ràng trong xử lý các sự việc, 5/ Cung cấp nguồn trợ giúp những HS đang gặp vấn đề kể cả nạn nhân và người gây ra BL, 6/ Tăng cường chia sẻ thông tin giữa nhà trường và cộng đồng, 7/ Liên kết với cơ quan thực thi pháp luật địa phương, 8/Sự nhất quán giữa các đối tác khi tiếp nhận thông tin về những tình huống có vấn đề (Sự thống nhất này cần phải được bồi dưỡng, trao đổi ngay từ đầu)


    Vấn đề phòng chống BL, bảo vệ trẻ em được quan tâm từ tất cả các cấp. Phối hợp của nhiều ngành, đảm bảo tính đồng bộ, chuyên nghiệp
    Chú trọng công tác phòng ngừa,
    Xây dựng MTGD thân thiện từ những sinh hoạt bình dị hàng ngày
    Quan tâm đến văn hóa nhà trường
    Tăng cường nhận thức của các đối tượng
    Giáo dục các kiến thức và kĩ năng phát hiện, phòng tránh BL hiệu quả
    Chú trọng hình thành lối sống lành mạnh thông qua dinh dưỡng, rèn luyện thể chất, các hoạt động tư vấn tâm lýkhỏe mạnh cả thế chất và TT
    Bài học từ kinh nghiệm quốc tế
    Căn cứ pháp lý của phòng chống BLHĐ ở Việt Nam
    - Công ước bảo vệ trẻ em, Luật trẻ em, Luật Giáo dục , Luật Hình sự
    - Nghị quyết 29-NQ/TW Về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
    - NĐ 80/2017/NĐ-CP, về MTGD an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống BLHĐ
    - Quyết định 04/VBHN- BGDĐT, Ban hành Điều lệ trường mầm non
    - Thông tư 13 /2010/TT-BGDĐT về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong CS GDMN
    Căn cứ pháp lý của phòng chống BLHĐ
    ở Việt Nam


    - Thông tư 21/2014/TT-BGDĐT, Quy định về quản lí và sử dụng xuất bản phẩm tham khảo trong các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX
    - Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT, Quy định về kiểm định chất lượng GD và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường MN
    - Chỉ thị 18/CT-TTg năm 2017, về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em
    - Chỉ thị 993/CT-BGDĐT, tăng cường giải pháp phòng, chống BLHĐ trong CSGD
    Phòng chống BLHĐ ở cơ sở GDMN: là những biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý tình huống bạo lực xảy ra với những đối tượng có liên quan trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình CS-GD trẻ em ở cơ sở GDMN.
    Phòng chống BLHĐ mang lại những lợi ích to lớn:
    - Tạo ra văn hóa bài trừ bạo lực trong cơ sở GD;
    - Tạo dựng được MTGD an toàn, lành mạnh, thân thiện để các thành viên của cơ sở GD yên tâm học tập, làm việc hiệu quả
    - Không còn bất cứ tổn thương nào do bạo lực xảy ra đối với các thành viên tham gia vào hoạt động CS-GD tại cơ sở giáo dục
    - Tạo dựng lòng tin tưởng, sự yên tâm cho các bậc PH và cộng đồng xã hội đối với ngành GD
    Nguyên tắc phòng chống BLHĐ ở cơ sở GDMN
    + Khách quan, trung thực: trong nhìn nhận, đánh giá sự việc, hiện tượng. Dám thừa nhận những hạn chế, sai phạm.
    + Đồng bộ, nhất quán: Tính đồng bộ được thể hiện trong các trang bị, tạo thành hệ thống hoàn chỉnh từ quy định, nhân lực, các trang thiết bị phục vụ cho phòng ngừa, xử lý BLHĐ. Các quy định, quy trình thực hiện cần được xây dựng nhất quán tránh gây lúng túng cho người thực hiện.


    Nguyên tắc phòng chống BLHĐ ở cơ sở GDMN

    + Mềm dẻo, tế nhị nhưng kiên quyết: Các tình huống BLHĐ đa phần không công khai và được che giấu do đó khi tìm hiểu về vấn đề cần mềm dẻo và tế nhị. Tuy nhiên trong giải quyết vấn đề BLHĐ cần có quy trình và thực hiện kiên quyết đến cùng mới có sức răn đe.
    + Cộng đồng trách nhiệm: cần tạo ra sức mạnh tổng lực từ nhiều lực lượng, giúp quá trình phát hiện, xử lý và giám sát được đa chiều và triệt để.
    Sơ đồ phản ánh các điều kiện và quy trình phòng chống BLHĐ
    BP đảm bảo hành lang pháp lý cho việc thực thi phòng chống BLHĐ
    + Rà soát, cập nhật và phổ biến các văn bản quy phạm để áp dụng tại CSGD
    + Đề xuất các ý kiến với cấp trên về những bất cập khi thi hành các văn bản quy phạm
    BP tăng cường nhận thức, kĩ năng của các đối tượng liên quan đến phòng chống BLHĐ
    + Cung cấp các văn bản quy phạm. Yêu cầu cán bộ, giáo viên, nhân viên trong CSGD tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan như: quyền trẻ em, luật giáo dục, quy định về xây dựng MTGD an toàn lành mạnh thân thiện….
    + Đăng tải, cập nhật các nội dung chuyên môn, quy định có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp nói chung và phòng chống BLTE nói riêng… lên trang web của trường hoặc nhóm trao đổi chuyên môn
    + Tổ chức thi/ tọa đàm/ sinh hoạt chuyên môn về những nội dung phục vụ cho phòng chống BLHĐ: các quy định pháp luật về GDMN nói chung và phòng chống BLTE nói riêng; về các biện pháp phòng chống BLTE, kiểm soát các cảm xúc tiêu cực trong công việc…
    + Khuyến khích GV thường xuyên trau dồi đạo đức nghề và tự bồi dưỡng chuyên môn và có hình thức đánh giá định kì
    + Trang bị kĩ năng quan sát và đánh giá cho GV
    + Trang bị kĩ năng phòng chống BLHĐ, xử lý các tình huống nghi BLHĐ hoặc đã xảy ra BLHĐ
    + Tăng cường các hình thức tác động đến nhận thức và hành vi PH qua các kênh khác nhau
    + Bổ sung các tài liệu hỗ trợ GV trong phát triển chuyên môn, nhận thức về BLHĐ và phòng chống BLHĐ
    + Tổ chức các cuộc nói chuyện, cuộc thi nhằm tôn vinh người làm nghề GDMN, tăng cường nhận thức về giá trị nghề nghiệp, niềm tự hào về nghề cho GVMN
    Những biện pháp cần thực hiện trong giai đoạn
    “Phát hiện vấn đề”
    Quan sát đánh giá theo hình thức kiểm tra, dự giờ:
    + Sử dụng tiêu chí đánh giá công khai, nhất quán trong toàn cơ sở giáo dục
    + Đánh giá định kỳ (theo tháng, quý, học kỳ) các thành tố của MTGD, đánh giá chéo giữa các lớp/tổ, ngẫu nhiên, đột xuất
    + Lưu giữ các minh chứng, có biên bản ghi nhận
    Những biện pháp cần thực hiện trong giai đoạn
    “Phát hiện vấn đề”

    Quan sát thường xuyên trong sinh hoạt:
    + GV quan sát các biểu hiện của trẻ khi tham gia các hoạt động trong nhóm lớp
    + Tăng cường giao tiếp gần gũi để trẻ có thể tin tưởng và chia sẻ những cảm xúc, sự lo lắng, sợ hãi của trẻ
    + Thu thập các thông tin từ những người khác để có thông tin đầy đủ hơn

    Những BP thực hiện trong giai đoạn
    “Ngăn ngừa – xử lý”
    Ngăn ngừa BLHĐ - cần thực hiện thường xuyên.
    Giải pháp về đảm bảo các điều kiện tổ chức MTGD
    Giải pháp về xây dựng văn hóa bài trừ bạo lực
    Giải pháp hỗ trợ GV giải tỏa áp lực
    Giải pháp tăng cường sự tham gia của PH và CĐ
    Giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
    Việc triển khai thực hiện các giải pháp cần có thời gian để “ngấm” và tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành vi, thái độ do đó khi đã thống nhất lựa chọn các giải pháp và biện pháp cụ thể để triển khai cần quyết tâm, nhất quán thực hiện tránh tình trạng mới đầu thì làm rầm rộ nhưng sau đó buông lỏng dần và trở về nếp cũ.
    Xử lý các tình huống BLHĐ
    Điều 6 Nghị định 80/2017 NĐCP
    , Điều 48,49 Luật trẻ em
    Mức hỗ trợ áp dụng với những đối tượng tham gia vào hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở cơ sở GDMN có nguy cơ bị BLHĐ:
    - Phát hiện kịp thời các hành vi gây gổ, có nguy cơ gây BLHĐ,
    - Đánh giá mức độ nguy cơ, hình thức bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn, hỗ trợ cụ thể;
    - Cảnh báo về nguy cơ trẻ em bị bao lực; tư vấn kiến thức, kĩ năng, biện pháp can thiệp nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ cho trẻ, cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em
    - Tăng cường giám sát để BLHĐ không có cơ hội xảy ra
    Mức can thiệp khi xảy ra BLHĐ với những đối tượng tham gia vào hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở cơ sở GDMN:
    - Đánh giá sơ bộ về mức độ tổn hại, đưa ra nhận định về tình trạng hiện thời của người bị BLHĐ;
    - Thực hiện ngay các biện pháp trợ giúp, chăm sóc y tế, tư vấn đối với người bị bạo lực; theo dõi, đánh giá sự an toàn của người bị bạo lực;
    Xử lý các tình huống BLHĐ
    Điều 6 Nghị định 80/2017 NĐCP
    , Điều 48,49 Luật trẻ em
    - Thông báo kịp thời với gia đình người học để phối hợp xử lý; trường hợp vụ việc vượt quá khả năng giải quyết của CSGD thì thông báo kịp thời với cơ quan công an, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.
    PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
    Cháu V 19 tháng tuổi được gửi ở một nhóm trẻ ĐLTT có phép, buổi trưa hôm đó bà của cháu theo dõi qua camera thì thấy cô giáo Y đang cho các cháu ăn (7 cháu/bàn), cháu V ăn được nửa bát thì dừng không ăn nữa, cô giáo có vẻ rất sừng sộ quát mắng và cháu V bắt đầu khóc, cô Y xốc nách cháu ra khỏi bàn ăn và bắt cháu đứng úp mặt vào góc lớp một lúc khá lâu. Sau đó cô kéo tay cháu trở lại bàn và xúc tiếp cơm cho cháu, cô xúc liên tục. Vì không chịu nổi tốc độ bị ép phải ăn nhanh quá mức nên cháu V đã nôn và khóc. Cô Y hứng cái bát vào chỗ nôn rồi lấy thìa đập vào miệng bắt cháu há ra để ăn hết phần thức ăn đã nôn đó. Bà của cháu thấy vậy chạy ngay ra trường, khoảng 15 phút sau có mặt tại lớp học của cháu, bà không thấy cháu mình đâu. Tìm vào nhà vệ sinh, bà thấy bé V đang cởi truồng, trên mặt và lưng có vệt bị đánh, cháu vừa khóc vừa bò trên sàn, đứng cạnh là cô giáo Y. Lúc đó cô T dạy cùng lớp mới chạy vào theo. Bà yêu cầu giải thích nhưng các cô chỉ im lặng, chủ cơ sở khi đó không có mặt tại cơ sở GDMN, quá bức xúc bà đã bế cháu ra công an phường tố cáo hành vi bạo hành trẻ em rồi cho cháu mình đi bệnh viện kiểm tra.
    Điều 27,  Nghị định 144/2013/NĐ-CP
    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với hành vi ngăn cản trẻ em tham gia hoạt động xã hội, sinh hoạt cộng đồng hợp pháp, lành mạnh.
    2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
    a) Xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khỏe đối với trẻ em;
    b) Bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ khác với trẻ em;
    c) Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;
    d) Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em làm trẻ em tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần;
    đ) Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương tinh thần.
    Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em đối với hành vi vi phạm tại Khoản 2 Điều này; b) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi vi phạm tại Điểm đ Khoản 2 Điều này;



    NGHỊ ĐỊNH Số: 138/2013/NĐ-CP
    Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục



    Điều 17. Vi phạm quy định về sử dụng nhà giáo
    . Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng nhà giáo không đủ tiêu chuẩn ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông.
    Điều 19. Vi phạm quy định về chính sách đối với nhà giáo hoặc hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
    1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với nhà giáo.
    2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
    Điều 21. Vi phạm quy định về kỷ luật người học, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người học
    . Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, xâm phạm thân thể người học.
    Điều 25. Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng hoặc bảo đảm điều kiện an toàn về cơ sở vật chất trường, lớp học
    . Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không đảm bảo điều kiện an toàn về cơ sở vật chất trường, lớp học.

    Phạt hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015

    Tùy tính chất của từng sự việc, người có hành vi ngược đãi, bạo hành trẻ em có thể sẽ bị xử lý về một trong các tội sau đây:
    - Tội cố ý gây thương tích (Điều 134)
    Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng đối với người dưới 16 tuổi thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    Phạt hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015

    - Tội ngược đãi hoặc hành hạ con, cháu… (Điều 185)
    Nếu ông bà, cha mẹ có hành vi thường xuyên làm cho con, cháu (dưới 16 tuổi) bị đau đớn về thể xác, tinh thần; đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
    - Tội hành hạ người khác (Điều 140)
    Nếu không thuộc trường hợp của Tội ngược đãi tại Điều 185, người có hành vi đối xử tàn ác hoặc làm nhục trẻ em thì sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
    Kết thúc
     
    Gửi ý kiến

    Tình khúc Anh Bằng

    THÔNG TIN SINH NHẬT